Showing posts with label Luật Cơ Bản Đức. Show all posts
Showing posts with label Luật Cơ Bản Đức. Show all posts
Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức - Chương X.a - Tình Trạng Phòng Thủ

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức - Chương X.a - Tình Trạng Phòng Thủ

Xa. TÌNH TRẠNG PHÒNG THỦ

Điều 115a [Tuyên bố tình trạng phòng thủ]
(1) Bất kỳ việc xác định rằng lãnh thổ liên bang đang bị tấn công hoặc sắp xảy cuộc tấn công bởi lực lượng vũ trang (tình trạng phòng thủ) sẽ được đưa ra bởi Hạ viện với sự tán thành của Thượng viện. Việc xác định như vậy được thực hiện theo đề nghị của Chính phủ Liên bang và yêu cầu 2/3 số phiếu tán thành, với sự có mặt của đa số các thành viên của Hạ viện.
(2) Nếu tình trạng bắt buộc phải cần có hành động ngay lập tức, và nếu những trở ngại không thể vượt qua ngăn cản việc triệu tập kịp thời Hạ viện hoặc Hạ viện không thể tập hợp đại biểu, Ủy ban Hỗn hợp sẽ thực hiện việc xác định này bởi 2/3 số phiếu tán thành, với sự có mặt của đa số các thành viên.
(3) Việc xác định được ban hành bởi Tổng thống Liên bang trong luật Công báo liên bang theo Điều 82. Nếu điều này không thể được thực hiện đúng thời hạn, việc ban hành có được thực hiện theo cách khác; việc xác định được in trong Công báo Luật Liên bang ngay sau khi hoàn cảnh cho phép.
(4) Nếu lãnh thổ liên bang bị tấn công bởi lực lượng vũ trang, và nếu cơ quan có thẩm quyền liên bang không kịp ngay lập tức thực hiện việc xác định tình trạng được quy định trong câu đầu tiên của khoản (1)   Điều này, việc xác định được coi là đã được thực hiện và ban hành tại thời điểm cuộc tấn công bắt đầu. Tổng thống Liên bang công bố thời gian đó ngay sau khi hoàn cảnh cho phép.
(5) Nếu việc xác định tình trạng phòng thủ đã được ban hành, và  nếu lãnh thổ liên bang đang bị tấn công bởi lực lượng vũ trang, Tổng thống Liên bang, với sự tán thành của Hạ viện, có  thể  ban  hành  những tuyên bố theo quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến sự hiện diện tình trạng phòng thủ. Theo những điều kiện được quy định   tại khoản (2) của Điều này, Ủy ban Hỗn hợp sẽ hoạt động ở vị trí của  Hạ viện.
Điều 115b [Quyền chỉ huy của Thủ tướng Liên bang]
Sau khi có việc ban bố tình trạng phòng thủ, quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang được trao cho Thủ tướng Liên bang.
 Điều 115c [Việc mở rộng các quyền lập pháp của Liên bang]
(1) Liên bang có quyền lập pháp song trùng về tình trạng phòng thủ, ngay cả đối với các vấn đề thuộc quyền lập pháp của các Bang. Các luật như vậy phải có sự tán thành của Thượng viện.
(2) Theo nhu cầu của tình trạng phòng thủ, một luật liên bang về tình trạng phòng thủ có thể:
1. Đề ra những quy định tạm thời liên quan đến việc bồi thường trong trường hợp tước quyền sở hữu ngoài những trường hợp nêu tại câu thứ hai của khoản (3) Điều 14;
2. Thiết lập một thời hạn tước quyền tự do khác với quy định tại câu thứ ba của khoản (2) và câu thứ nhất của khoản (3) Điều 104, nhưng không quá 4 ngày, đối với các trường hợp mà thẩm phán không thể làm việc trong thời hạn thường áp dụng.
(3) Theo nhu cầu nhằm đẩy lùi một cuộc tấn công đang tồn tại hoặc sắp xảy ra, một luật liên bang về tình trạng phòng thủ có thể, với sự tán thành của Thượng viện, điều chỉnh việc quản trị và tài chính của Liên bang và các bang mà không theo tiêu đề VIII, VIIIa và X của Luật Cơ bản này, miễn là bảo đảm khả năng duy trì của các Bang, cộng đồng và hiệp hội cộng đồng, đặc biệt là liên quan đến vấn đề tài  chính.
(4) Các luật liên bang được ban hành theo khoản (1) hoặc đoạn 1 của khoản (2) Điều này có thể, nhằm chuẩn bị cho việc thi hành chúng, được áp dụng ngay trước khi tình trạng phòng thủ xuất hiện.
Điều 115d [Dự luật khẩn cấp]
(1) Trong thời gian tình trạng phòng thủ, hoạt động lập pháp liên bang được điều chỉnh bởi các quy định của khoản (2) và (3) Điều này  mà không liên quan đến các quy định của khoản (2) Điều 76, câu thứ hai của khoản (1), các khoản từ (2) đến (4) Điều 77, Điều 78 và khoản (1) Điều 82.
(2) Dự luật Chính phủ Liên bang mà Chính phủ coi là khẩn cấp được chuyển đến Thượng viện vào cùng thời điểm chúng được đệ trình tới Hạ viện. Hạ viện và Thượng viện sẽ nhanh chóng thảo luận về dự án luật này trong phiên họp chung. Khi sự tán thành của Thượng viện là cần thiết cho bất kỳ dự luật nào để trở thành luật, cần có sự chấp thuận của đa số phiếu. Các chi tiết được quy định bởi các quy tắc thủ tục được thông qua bởi Hạ viện và được sự tán thành của Thượng viện.
(3) Câu thứ hai của khoản (3) Điều 115a được áp dụng đối với việc ban hành các luật đó với những điều chỉnh.
Điều 115e [Ủy ban Hỗn hợp]
(1) Nếu, trong thời gian tình trạng phòng thủ, Ủy ban Hỗn hợp bằng 2/3 số phiếu, với sự có mặt của đa số thành viên, xác định rằng những trở ngại không vượt qua được ngăn cản việc triệu tập kịp thời của Hạ viện hoặc Thượng viện không thể triệu tập các đại biểu, Ủy ban hỗn  hợp sẽ giữ vị trí của cả Hạ viện và Thượng viện và thực thi quyền hạn như một cơ quan đơn nhất.
(2) Luật Cơ bản này không thể được sửa đổi hay bổ sung hoặc đình chỉ toàn bộ hoặc một phần bởi luật được ban hành bởi Ủy ban Hỗn  hợp. Ủy ban Hỗn hợp không có quyền hạn ban hành pháp luật theo  câu thứ hai của khoản (1) Điều 23, khoản (1) Điều 24, hoặc Điều 29.
Điều 115f [Sử dụng Cảnh sát Biên giới Liên bang - Mở rộng quyền hướng dẫn]
(1) Trong thời gian tình trạng phòng thủ, Chính phủ Liên bang, theo yêu cầu của hoàn cảnh, có thể:
1. Sử dụng Cảnh sát Biên giới Liên bang trên toàn lãnh thổ liên bang;
2. Ban hành những hướng dẫn không chỉ cho cơ quan hành chính liên bang mà còn cho cả chính phủ Bang, nếu xét thấy các vấn đề khẩn cấp, cho các cơ quan của Bang, và có thể ủy thác quyền hạn này cho các thành viên của chính phủ Bang được chỉ định bởi nó.
(2) Hạ viện, Thượng viện và Ủy ban Hỗn  hợp  phải được thông báo không chậm trễ các biện pháp thực hiện phù hợp với khoản (1) Điều này.
 Điều 115g [Tòa án Hiến pháp Liên bang]
Địa vị hiến định cũng như việc thực hiện những chức năng hiến định của Tòa án Hiến pháp Liên bang hoặc thẩm phán của Tòa không thể bị thay đổi. Luật về Tòa án Hiến pháp Liên bang có thể được sửa đổi bởi luật được ban hành bởi Ủy ban Hỗn hợp chỉ trong giới hạn Tòa án   Hiến pháp liên bang đồng ý là cần thiết để đảm bảo việc nó có thể tiếp tục thực hiện các chức năng của mình. Trong khi chờ ban hành pháp luật, Tòa án Hiến pháp Liên bang có thể có những biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu này. Các quyết định bởi Tòa án Hiến pháp liên bang tuân theo câu thứ hai và câu thứ ba của Điều này được thực hiện bởi đa số các thẩm phán có mặt.
Điều 115h [Hết hạn nhiệm kỳ]
(1) Bất kỳ nhiệm kỳ bầu cử của Hạ viện hoặc nghị viện Bang nào hết hạn trong thời gian tình trạng phòng thủ sẽ kết thúc vào 6 tháng sau khi chấm dứt tình trạng phòng thủ. Nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang hết hạn trong thời gian tình trạng phòng thủ và việc thực thi chức năng Tổng thống bởi Chủ tịch Thượng viện khi ghế Tổng thống trống   sẽ kết thúc vào 9 tháng sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ. Nhiệm  kỳ thành viên của Tòa án Hiến pháp Liên bang hết hạn trong thời gian tình trạng phòng thủ sẽ kết thúc vào 6 tháng sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ.
(2) Ủy ban hỗn hợp, khi cần phải bầu ra một Thủ tướng Liên bang mới, sẽ thực hiện bằng việc bỏ phiếu đa số thành viên. Tổng thống Liên bang sẽ đề xuất một ứng cử viên cho Ủy ban Hỗn hợp. Ủy ban Hỗn hợp có thể bày tỏ sự bất tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang bằng cách bầu một người kế nhiệm bởi đa số 2/3 thành viên.
(3) Hạ viện không bị giải thể trong khi đang tồn tại tình trạng phòng thủ.
 Điều 115i [Quyền của chính quyền Bang]
(1) Nếu các cơ quan liên bang có thẩm quyền không có khả năng đưa ra các biện pháp cần thiết để ngăn chặn mối nguy hiểm, và nếu tình hình bắt buộc phải cần ngay lập tức hành động độc lập ở những khu   vực nhất định của lãnh thổ liên bang, chính phủ bang hoặc cơ quan có thẩm quyền hoặc đại diện được ủy quyền, trong phạm vi thẩm quyền, thực hiện các biện pháp quy định tại khoản (1) Điều 115f.
(2) Bất kỳ biện pháp nào được thực hiện phù hợp với khoản (1) Điều này có thể bị hủy bỏ bất cứ lúc nào bởi Chính phủ Liên bang, hoặc, khi liên quan đến các cơ quan có thẩm quyền của Bang và các cơ quan có thẩm quyền liên bang cấp dưới, bởi Bộ trưởng – Thống đốc các Bang.
Điều 115k [Phân loại và thời hạn của các điều khoản khẩn cấp]
(1) Các luật được ban hành phù hợp với điều 115c, 115e và 115g, cũng như các văn bản quy phạm hướng dẫn được ban hành trên cơ sở những luật đó, đình chỉ áp dụng luật không tương thích miễn là chúng đang   có hiệu lực. Quy định này không áp dụng đối với luật được ban hành sớm hơn theo Điều 115c, 115e hoặc 115g.
(2) Các luật được thông qua bởi Ủy ban Hỗn hợp, cũng như các văn bản quy phạm hướng dẫn đã được ban hành trên cơ sở những luật đó, hết hiệu lực không muộn hơn 6 tháng sau khi kết thúc tình  trạng phòng thủ.
(3 Các luật chứa đựng những quy định bất đồng với các điều 91A, 91B, 104a, 106 và 107 không được áp dụng quá thời điểm kết thúc của năm tài chính thứ hai tiếp sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ. Sau khi kết thúc như vậy, chúng có thể, với sự tán thành của Thượng viện, được sửa đổi bởi một luật liên bang để trở lại với các quy định của Tiêu đề VIIIa và X.
Điều 115l [Bãi bỏ biện pháp khẩn cấp - hòa ước]
(1) Hạ viện, với sự tán thành của Thượng viện, có thể bãi bỏ vào bất kỳ thời điểm nào các luật được ban hành bởi Ủy ban Hỗn hợp.   Thượng viện có thể yêu cầu Hạ viện đưa ra một quyết định về vấn đề này. Bất    kỳ biện pháp nào được thực hiện bởi Ủy ban Hỗn hợp hoặc Chính phủ Liên bang để ngăn chặn một mối nguy hiểm phải được huỷ bỏ nếu Hạ viện và Thượng viện cùng quyết định như vậy.
(2) Hạ viện, với sự tán thành của Thượng viện, có thể bất cứ lúc nào, bằng một quyết định được ban hành bởi Tổng thống Liên bang, tuyên bố tình trạng phòng thủ kết thúc. Thượng viện có thể yêu cầu Hạ viện đưa ra một quyết định về vấn đề này. Tình trạng phòng thủ phải được tuyên bố kết thúc không chậm trễ nếu các điều kiện để xác định nó không còn tồn tại.
Việc ký kết hòa ước được quy định bởi một luật liên bang

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949 - Hành Pháp

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949 - Hành Pháp

LUẬT CƠ BẢN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC 1949

CHƯƠNG V. TỔNG THỐNG LIÊN BANG
Điều 54 [Bầu cử Tổng Thống Liên Bang] 
(1) Tổng thống Liên bang sẽ  được bầu bởi Hội nghị Liên bang mà không qua tranh luận. Bất kỳ công dân  Đức  đủ  điều kiện bầu cử Hạ viện và đủ 40 tuổi có thể ứng cử.
 (2) Nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang là 5 năm. Việc tái cử một nhiệm kỳ liên tiếp chỉ được phép một lần.
(3) Hội nghị Liên bang sẽ bao gồm các thành viên của Hạ viện và một số tương đương thành viên  được bầu bởi nghị viện các Bang trên cơ sở đại diện tỷ lệ.
(4) Hội nghị Liên bang sẽ họp không muộn hơn 30 ngày trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang hết hoặc, trong trường hợp kết thúc sớm, không muộn hơn 30 ngày sau ngày  đó. Hội nghị sẽ  được triệu tập bởi Chủ tịch Hạ viện. 
(5) Sau khi hết nhiệm kỳ lập pháp, thời hạn nêu chi tiết trong câu  đầu của  đoạn
(4) của  Điều này sẽ bắt  đầu khi Hạ viện họp phiên đầu tiên. 
(6) Người nhận  được  đa số phiếu của Hội nghị Liên bang sẽ  được bầu chọn. Nếu sau hai lần bỏ phiếu không ai nhân  được  đa số phiếu, người nhận  được số phiếu lớn nhất trong lần bỏ phiếu tiếp theo sẽ được bầu chọn.
(7) Các chi tiết sẽ được quy định cụ thể trong luật của liên bang. 
Điều 55 [Xung đột lợi ích] 
(1) Tổng thống Liên bang không thể là thành viên của chính phủ hoặc là thành viên của cơ quan lập pháp Liên bang hoặc Bang.
(2) Tổng thống Liên bang không thể nắm giữ một vị trí hưởng lương hoặc tham gia nghề nghiệp hay kinh doanh, hoặc tham gia vào quản lý hoặc ban kiểm soát của bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh thu lợi nào.
Điều 56 [Tuyên thệ nhậm chức] 
Khi nhậm chức, Tổng thống Liên bang sẽ tuyên thệ như sau trước các thành viên Hạ viện và Thượng viện:  “Tôi thề rằng tôi sẽ cống hiến các nỗ lực của mình cho hạnh phúc của người dân Đức, thúc đẩy an sinh của họ, bảo vệ họ khỏi những đe dọa, duy trì và bảo vệ Luật Cơ bản và các luật của Liên bang, thực thi các nghĩa vụ của tôi một cách toàn tâm và bảo đảm công lý cho tất cả mọi người. Xin Thiên Chúa phù hộ tôi.” Lời tuyên thệ cũng có thể  được thực hiện mà không cần xác tín về tôn giáo.
Điều 57 [Mất khả năng hoặc bỏ trống] 
Nếu Tổng thống Liên bang không thể thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc ghế  đó bị trống, Chủ tịch Thượng viện sẽ thực thi quyền hạn Tổng thống. 
Điều 58 [Ký phó thự] 
Các lệnh và chỉ thị của Tổng thống Liên bang  để có hiệu lực cần có chữ ký của Thủ tướng Liên bang hoặc Bộ trưởng Liên bang có thẩm quyền.  Điều khoản này không áp dụng  đối việc bổ nhiệm hoặc phế truất Thủ tướng Liên bang, việc giải tán Hạ viện theo  Điều 63, hoặc một đề nghị thực thi theo đoạn (3) Điều 69. 
Điều 59 [Đại diện của Liên bang] 
(1) Tổng thống Liên bang sẽ là người đại diện Liên bang phù hợp với luật quốc tế ký kết các điều ước với nước ngoài. Tổng thống bổ nhiệm và tiếp nhận các đại diện ngoại giao.
(2) Các  điều ước quy  định về quan hệ chính trị của Liên bang hoặc liên quan đến các vấn đề thuộc thẩm quyền của lập pháp liên bang cần sự chấp thuận hoặc tham gia, dưới hình thức một  đạo luật liên bang, của các cơ quan chịu trách nhiệm về việc thông qua một luật liên bang. Trong trường hợp các điều ước về quản lý thì các điều khoản liên quan đến quản lý liên bang sẽ áp dụng tương tự.
Điều 59a [Đã được hủy bỏ] 
Điều 60 [Bổ nhiệm và miễn nhiệm các thẩm phán liên bang, công chức liên bang và sỹ quan quân đội; đặc xá]
(1) Tổng thống Liên bang sẽ bổ nhiệm và miễn nhiệm các thẩm phán liên bang, các công chức liên bang, các sỹ quan của quân đội, trừ khi có luật quy định khác.
(2) Tổng thống Liên bang thực thi quyền đặc xá đối với các cá nhân phạm tội nhân danh Liên bang.
(3) Tổng thống Liên bang có thể  ủy nhiệm cho cơ quan khác thực hiện quyền trên. 
(4) Các khoản (2)  đến (4) của  Điều 46  được áp dụng tương tự  đối với Tổng thống Liên bang. 
Điều 61 [Luận tội trước Tòa án Hiến pháp Liên bang] 
(1) Hạ viện hoặc Thượng viện có thể luận tội Tổng thống Liên bang trước Tòa án Hiến pháp Liên bang vì đã cố ý vi phạm Luật Cơ bản này hoặc bất kỳ luật liên bang nào khác. Việc khởi động luận tội phải được sự  ủng hộ của ít nhất 1/4 thành viên Hạ viện hoặc 1/4 số phiếu của Thượng viện. Nghị quyết về việc luận tội phải được thông qua với đa số 2/3 thành viên của Hạ viện hoặc 2/3 số phiếu của Thượng viện. Trường hợp luận tội sẽ được đưa ra trước Tòa án Hiến pháp Liên bang bởi một người được ủy quyền bởi cơ quan luận tội.
(2) Tòa án Hiến pháp Liên bang phán quyết rằng Tổng thống Liên bang  đã cố ý vi phạm Luật Cơ bản này hoặc bất kỳ luật liên bang nào khác, tòa có thể tuyên bố ông ta  đã bị tước khỏi vị trí. Sau khi Tổng thống Liên bang đã bị luận tội, Tòa án có thể ban hành một chỉ thị lâm thời cấm Tổng thống thực hiện thẩm quyền của mình

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức - Thượng Viện

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức - Thượng Viện

LUẬT CƠ BẢN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC 1949


CHƯƠNG IV. THƯỢNG VIỆN (BUNDESRAT)
Điều 50 [Các chức năng] 
Các Bang sẽ tham gia, thông qua Thượng viện, vào hoạt  động lập pháp, hành chính của Liên bang và các vấn đề liên quan đến Liên minh Châu Âu.
Điều 51 [Thành phần] 
(1) Thượng viện sẽ bao gồm các thành viên của chính quyền các Bang, các Bang bổ nhiệm và triệu hồi các thành viên đó. Các thành viên khác của các chính quyền đó có thể hoạt động thay thế.
(2) Mỗi Bang sẽ có tối thiểu 3 phiếu bầu; các Bang có hơn 2 triệu dân sẽ có 4 phiếu, các Bang có hơn 6 triệu dân sẽ có 5 phiếu, và các Bang hơn 7 triệu dân sẽ có 6 phiếu.
(3) Mỗi Bang bổ nhiệm số thành viên tương đương với số phiếu của mình. Các phiếu của mỗi Bang chỉ được bỏ một lần như một đơn vị và chỉ bởi các thành viên có mặt hoặc người thay thế họ.
Điều 52 [Chủ tịch – quyết định - các quy tắc thủ tục] 
(1) Thượng viện sẽ bầu ra Chủ tịch Thượng viện với nhiệm kỳ một năm. 
(2) Chủ tịch sẽ triệu tập Thượng viện. Chủ tịch phải triệu tập Thượng viện nếu  đại diện từ tối thiểu 2 Bang hoặc Chính phủ Liên bang yêu cầu.
(3) Các quyết  định của Thượng viện sẽ cần  đa số thành viên thông qua. Thượng viện sẽ thông qua các quy tắc thủ tục. Các kỳ họp được tổ chức công khai. Công chúng có thể vào nghe.
(3a)  Đối với các vấn  đề liên quan  đến Liên minh Châu Âu, Thượng viện có thể thiết lập một  Ủy ban về các vấn  đề châu Âu  để  đưa ra các quyết  định  được coi như của Thượng viện; số phiếu  được bỏ bởi các Bang được quy định bởi đoạn (2) Điều 51.
 (4) Các thành viên hoặc đại diện khác của chính quyền Bang có thể tham gia vào các ủy ban của Thượng viện. 
Điều 53 [Tham dự của các thành viên Chính phủ Liên bang] 
Các thành viên Chính phủ Liên bang có quyền, khi có nhu cầu, tham gia vào các kỳ họp của Thượng viện và các ủy ban Thượng viện. Họ có quyền trình bày quan điểm vào bất kỳ lúc nào. Chính phủ Liên bang sẽ thông báo cho Thượng viện liên quan đến các hoạt động này. 
IVa. ỦY BAN HỖN HỢP
Điều 53a [Thành phần - Các quy tắc thủ tục] 
(1)  Ủy ban Hỗn hợp sẽ bao gồm các thành viên của Hạ viện và các thành viên Thượng viện; Hạ viện có 2/3 thành viên và Thượng viện có 1/3 thành viên trong  ủy ban. Hạ viện sẽ chỉ  định các thành viên tỷ lệ với các nhóm khác nhau trong nghị viện; họ không thể  đồng thời là thành viên của Chính phủ Liên bang. Mỗi Bang sẽ  được  đại diện bởi một thành viên Thượng viện do họ chọn; các thành viên này sẽ không chịu sự chỉ đạo nào. Việc thành lập Ủy ban Hỗn hợp và các thủ tục sẽ được quy định bằng các quy tắc thủ tục được thông qua bởi Hạ viện và cần được sự phê chuẩn bởi Thượng viện. 
(2) Chính phủ Liên bang sẽ thông báo cho  Ủy ban Hỗn hợp về kế hoạch phòng vệ quốc gia. Các quyền của Hạ viện và các  ủy ban theo đoạn (1) của  Điều 43 sẽ không bị  ảnh hưởng bởi các quy  định trong đoạn này.


Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949 - Hạ Viện

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949 - Hạ Viện

LUẬT CƠ BẢN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC 1949

CHƯƠNG III. HẠ VIỆN (BUNDESTAG)
Điều 38 [Bầu cử] 
(1) Thành viên của Hạ viện  Đức (Bundestag)  được bầu từ các cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình  đẳng và bỏ phiếu kín. Họ  đại diện cho toàn dân, không bị ràng buộc bởi các chỉ đạo hoặc hướng dẫn và chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm mình. 
(2) Mọi người đã đến tuổi 18 sẽ được quyền bỏ phiếu, người nào đã đạt tuổi trưởng thành đều được bầu. 
(3) Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang. 
Điều 39 [Nhiệm kỳ - Triệu tập]
(1) Hạ viện  được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Hạ viện mới  được triệu tập. Cuộc bầu cử mới  được tổ chức không sớm hơn 46 tháng và không muộn hơn 48 tháng sau khi thời hạn bầu cử bắt  đầu. Nếu Hạ viện bị giải thể, cuộc bầu cử mới  được tổ chức trong vòng 60 ngày.
(2) Hạ viện sẽ triệu tập chậm nhất là ngày thứ 30 sau ngày tổ chức bầu cử.
(3) Hạ viện xác định thời điểm hoãn và tiếp tục các phiên họp. Chủ tịch Hạ viện có thể triệu tập vào ngày sớm hơn. Chủ tịch có nghĩa vụ triệu tập khi 1/3 thành viên Hạ viện, Tổng thống Liên bang hoặc Thủ tướng Liên bang có yêu cầu. 
Điều 40 [Chủ tịch - Quy tắc thủ tục]
(1) Hạ viện sẽ bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký. Hạ viện thông qua các quy tắc về thủ tục. 
(2) Chủ tịch Hạ viện thực thi toàn quyền quản lý và bảo vệ trong tòa nhà Hạ viện. Không  được khám xét hoặc thu giữ tại các cơ sở của Hạ viện khi chưa có sự cho phép của Chủ tịch. 
 Điều 41 [Giám sát các cuộc bầu cử] 
 (1)  Việc giám sát các cuộc bầu cử là trách nhiệm của Hạ viện. Hạ viện cũng quyết định việc một thành viên phải rời vị trí của mình. 
 (2)  Các khiếu nại chống lại quyết  định như vậy của Hạ viện có thể được nộp cho Tòa án Hiến pháp Liên bang. 
 (3) Các chi tiết được quy định bởi một luật liên bang. 
 Điều 42 [Họp công khai – quyết định đa số] 
 (1) Các kỳ họp của Hạ viện tổ chức công khai. Theo đề nghị của 1/10 thành viên Hạ viện hoặc theo  đề nghị của Chính phủ Liên bang, với quyết định của đa số 2/3 thành viên Hạ viện, người dân sẽ không được phép tham dự. Đề nghị đó được biểu quyết tại một phiên họp kín.
(2) Các quyết định của Hạ viện cần được đa số phiếu ủng hộ, trừ khi Luật cơ bản này có quy định khác. Các quy tắc thủ tục có thể cho phép ngoại lệ đối với các cuộc bầu cử tiến hành bởi Hạ viện. 
 (3) Các báo cáo trung thực về phiên họp công khai của Hạ viện và các ủy ban của nó không làm phát sinh bất kỳ trách nhiệm nào. 
Điều 43 [Quyền yêu cầu có mặt, quyền tiếp cận và  quyền trình bày] 
(1) Hạ viện và các ủy ban của nó có thể yêu cầu sự hiện diện của bất kỳ thành viên nào của Chính phủ Liên bang. 
(2) Các thành viên của Thượng viện và của Chính phủ Liên bang cũng như các đại diện của họ có thể tham dự tất cả các phiên họp của Hạ viện và các phiên họp của  ủy ban Hạ viện. Họ có quyền trình bày vào bất kỳ lúc nào. 
Điều 44 [Ủy ban điều tra] 
(1) Hạ viện sẽ có quyền, theo  đề nghị của 1/4 thành viên, thiết lập một  ủy ban  điều tra, cơ quan này thực hiện việc thu thập bằng chứng cần thiết tại các buổi  điều trần công khai. Công chúng có thể không được tham dự. 
(2) Các quy tắc tố tụng hình sự  được áp dụng với những sửa  đổi thích hợp  để thu thập bằng chứng. Bí mật thư tín và liên lạc không bị ảnh hưởng. 
(3) Toà án và các cơ quan hành chính  được yêu cầu phải cung cấp trợ giúp pháp lý và hành chính. 
(4) Các quyết định của ủy ban điều tra không bị xem xét lại theo thủ tục tư pháp. Các tòa án sẽ được tự do đánh giá và phán quyết dựa trên các dữ kiện là đối tượng của cuộc điều tra. 
Điều 45 [Ủy ban về Liên minh châu Âu] 
Hạ viện chỉ  định một  Ủy ban về Liên minh châu Âu. Nó có thể  ủy quyền cho  Ủy ban này thực hiện các quyền của Hạ viện theo  Điều 23 cùng với Chính phủ Liên bang. Nó cũng có thể trao cho  Ủy ban các quyền được trao cho Hạ viện theo các thỏa ước với Liên minh châu Âu.
 Điều 45a [Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng] 
(1) Hạ viện chỉ  định một  Ủy ban  Đối ngoại và một  Ủy ban Quốc phòng. 
(2) Ủy ban Quốc phòng cũng có quyền hạn của một ủy ban điều tra. Theo đề nghị của 1/4 thành viên của mình, Ủy ban có trách nhiệm điều tra một vấn đề cụ thể. 
(3) Khoản (1) Điều 44 không áp dụng đối với các vấn đề quốc phòng. 
Điều 45b [Ủy viên Quốc hội về lực lượng vũ trang]
Một Ủy viên Quốc hội về lực lượng vũ trang sẽ được chỉ định để bảo đảm các quyền cơ bản và để hỗ trợ Hạ viện trong việc thực hiện kiểm soát quốc hội đối với các lực lượng vũ trang. Các chi tiết được quy định bởi một đạo luật liên bang. 
Điều 45c [Ủy ban Dân nguyện] 
(1) Hạ viện chỉ  định một  Ủy ban Dân nguyện  để thụ lý các yêu cầu và khiếu nại gửi đến Hạ viện theo Điều 17. 
(2) Quyền hạn xem xét khiếu nại của Ủy ban được quy định bởi một đạo luật liên bang. 
Điều 46 [Miễn trách nhiệm của thành viên] 
(1) Thành viên Hạ viện không thể bị truy cứu trước tòa án, phải chịu biện pháp kỷ luật hay phải chịu trách nhiệm ngoài Hạ viện về lý do bỏ phiếu, trình bày hay tranh luận tại Hạ viện hoặc tại bất kỳ ủy ban nào của Hạ viện. Quy định này không áp dụng đối với những lời lăng mạ có tính cách phỉ báng. 
 (2) Thành viên Hạ viện không thể bị triệu tập hoặc bị bắt vì một tội phạm hình sự khi chưa có sự cho phép của Hạ viện, trừ khi người đó bị bắt ngay khi đang phạm tội hoặc ngay vào ngày hôm sau. 
(3) Cũng cần có sự cho phép của Hạ viện  đối với bất kỳ hạn chế tự do thân thể của thành viên Hạ viện hoặc khởi tố đối với một thành viên theo quy định tại Điều 18. 
(4) Bất kỳ thủ tục tố tụng hình sự hoặc thủ tục tố tụng khác theo Điều 18 hoặc việc giam giữ, hạn chế tự do thân thể khác  đối với một thành viên Hạ viện sẽ phải ngưng theo yêu cầu của Hạ viện. 
Điều 47 [Quyền từ chối đưa ra bằng chứng] 
Các thành viên Hạ viện có thể từ chối đưa ra bằng chứng liên quan đến những người đã chia sẻ thông tin cho họ với tư cách là thành viên Hạ viện, hoặc đến những người họ đã chia sẻ với tư cách đó, cũng như những chứng cứ liên quan đến chính những thông tin đó. Chừng nào mà quyền từ chối này áp dụng, không ai  được phép ra lệnh tịch thu tài liệu.
Điều 48 [Ứng cử viên – bảo vệ tư cách thành viên]  
(1) Mọi ứng cử viên tranh cử vào Hạ viện sẽ được phép nghỉ việc nếu cần thiết cho chiến dịch vận động bầu cử của mình.
(2) Không ai có thể bị cản trở nhận hoặc thực thi nhiệm vụ thành viên Hạ viện. Không ai có thể bị sa thải hoặc buộc thôi việc dựa trên lý do này.
(3) Các thành viên  được hưởng  đầy  đủ  điều kiện vật chất  để  đảm bảo  độc lập. Họ có quyền sử dụng các phương tiện giao thông công cộng miễn phí. Các chi tiết được quy định bởi một đạo luật liên bang. 
Điều 49 [Đã được hủy bỏ]


Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949 - Lời Nói Đầu

Luật Cơ Bản Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949 - Lời Nói Đầu

LUẬT CƠ BẢN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC 1949


LỜI NÓI ĐẦU
Ý thức về trách nhiệm của mình trước Thiên Chúa và con người, 
Lấy cảm hứng từ sự quan tâm thúc  đẩy hòa bình thế giới như một đối tác bình đẳng trong Châu Âu thống nhất, người dân Đức bằng việc thực thi quyền lực của mình đã thông qua Luật cơ bản này. 
Người dân  Đức từ các bang Baden-Württemberg, Bavaria, Berlin, Brandenburg, Bremen, Hamburg, Hesse, Lower Saxony, Mecklenburg-Western Pomerania, Bắc Rhine-Westphalia, Rhineland-Palatinate, Saarland, Saxony, Saxony-Anhalt,  Schleswig-Holstein và Thuringia  đã đạt  được sự thống nhất và tự do của nước  Đức với quyền tự quyết. Vì vậy, Luật Cơ bản này áp dụng cho toàn bộ người dân Đức.