Showing posts with label Lập Pháp. Show all posts
Showing posts with label Lập Pháp. Show all posts
Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ 1789  - Lập Pháp

Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ 1789 - Lập Pháp

Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ 1789

Điều I
Khoản 1
Mọi quyền lập pháp được bản Hiến pháp này thừa nhận được trao cho Quốc hội Hợp chúng quốc, bao gồm Thượng viện và Hạ viện.
Khoản 2
Hạ viện sẽ gồm các thành viên được dân chúng ở các bang bầu ra cứ hai năm một lần. Cử tri ở mỗi bang phải có phẩm chất cần thiết như phẩm chất của cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất.
Những người được bầu làm Hạ nghị sĩ phải trên 25 tuổi và phải là công dân của Hợp chúng quốc ít nhất bảy năm và vào thời điểm được bầu phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn.
 Hạ nghị sĩ và các loại thuế trực thu sẽ được phân bổ cho các bang trong Liên minh theo dân số của mỗi bang. Số dân của các bang sẽ xác định bằng cách tính tổng số gồm những người tự do, kể cả những viên chức nhà nước và 3/5 số những người còn lại, không tính những người da đỏ không nộp thuế. Việc kiểm tra dân số sẽ được tiến hành trong vòng ba năm, sau kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Hợp chúng quốc và sau đấy, cứ 10 năm tiến hành một lần theo cách thức do Quốc hội qui định. Cứ 30.000 người lại có một đại biểu. Cho tới khi lần kiểm tra đầu tiên được tiến hành, Hạ viện sẽ bao gồm 65 đại biểu: New Hampshire sẽ được quyền bầu ba, bang Massachusetts bầu tám, bang Rhodes Island và các đồn điền Quan phòng bầu một, bang Connecticut bầu năm, bang New York bầu sáu, bang New Jersey bầu bốn, bang Pennsynvania bầu tám, bang Delaware bầu một, bang Maryland bầu sáu, bang Virginia bầu mười, bang Bắc Carolina bầu năm, bang Nam Carolina bầu năm và bang Georgia bầu ba đại biểu.
Khi khuyết ghế đại biểu ở bất cứ bang nào thì cơ quan hành pháp của bang đó sẽ ban hành những sắc lệnh định đoạt thể thức cuộc bầu cử, để bổ sung những chỗ trống đó.
Hạ viện sẽ bầu ra Chủ tịch và các quan chức khác của Viện và là Viện duy nhất có quyền luận tội các quan chức.
Khoản 3
Thượng viện Hợp chúng quốc sẽ gồm hai Thượng nghị sĩ của mỗi bang, do cơ quan lập pháp ở đó chọn lựa, với nhiệm kỳ sáu năm và mỗi Thượng nghị sĩ có một phiếu bầu.
Ngay sau khi nhóm họp lần đầu tiên, các Thượng nghị sĩ sẽ được chia đều thành ba nhóm:
   Thượng nghị sĩ nhóm một sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ hai.
Thượng nghị sĩ nhóm hai sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ tư.
Thượng nghị sĩ nhóm ba sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ sáu. Sao cho, cứ sau hai năm, sẽ bầu lại một phần ba số Thượng nghĩ sĩ.
Nếu có những ghế trống do từ chức hoặc nguyên nhân nào khác trong thời gian ngừng họp của cơ quan lập pháp ở bất cứ bang nào, thì cơ quan hành pháp của bang đó có quyền tạm thời bổ nhiệm người vào ghế trống đó cho đến khi Nghị viện tiểu bang đó nhóm họp và quyết định bổ sung vào chỗ trống.
Những người được bầu làm Thượng nghị sĩ phải trên 30 tuổi và có ít nhất chín năm là công dân Hợp chúng quốc, đồng thời khi được bầu, phải là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn.
Phó tổng thống Hợp chúng quốc sẽ là Chủ tịch Thượng viện, nhưng không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp số phiếu chống ngang nhau khi biểu quyết.
Thượng viện sẽ lựa chọn những viên chức khác cho Viện mình và một vị quyền Chủ tịch khi Phó Tổng thống Hợp chúng quốc vắng mặt hoặc khi Phó Tổng thống đảm nhận chức vụ Tổng thống Hợp chúng quốc.
Thượng viện là nơi duy nhất có quyền xét xử mọi vụ luận tội. Khi nhóm họp để xét xử các vụ án này, các Thượng nghị sĩ phải tuyên thệ. Trong trường hợp xét xử Tổng thống, Chánh án Tòa án Tối cao sẽ là chủ tọa phiên tòa. Không ai bị kết án nếu không được 2/3 số Thượng nghị sĩ có mặt đồng ý.
Mức án áp dụng trong những vụ buộc tội này không vượt quá sự cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một chức tước danh dự hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chúng quốc. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị truy tố, xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định.
Khoản 4
Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành bầu cử Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của tiểu bang nào, sẽ do cơ quan lập pháp của bang đó qui định. Nhưng vào bất cứ lúc nào, Quốc hội Liên bang cũng có quyền ban hành luật, hoặc thay đổi các qui định đó, trừ qui định về địa điểm bầu Thượng nghị sĩ.
Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và các kỳ họp này phải bắt đầu vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng Mười hai, trừ trường hợp Quốc hội qui định một ngày khác, bằng một đạo luật.
Khoản 5
Mỗi viện có quyền qui định thể lệ cuộc bầu cử của mình, về kết quả của cuộc bầu cử đó và về những điều kiện cần thiết của các nghị sĩ. Ða số trong mỗi Viện có quyền thành lập một ủy ban điều hành công việc, còn thiểu số có quyền trì hoãn phiên họp và có quyền buộc những thành viên vắng mặt phải tới họp theo đúng thể thức và phải nhận một hình thức kỷ luật theo qui chế của mỗi Viện.
Mỗi Viện có quyền quy định những qui chế của Viện mình, thi hành kỷ luật những thành viên có hành vi sai phạm và khai trừ thành viên với sự nhất trí của 2/3 số thành viên.
Mỗi Viện có quyền giữ một cuốn sổ ghi những hoạt động của Viện và theo định kỳ, phải công bố những điều đã ghi, ngoại trừ những việc mà Viện đó cho là cần phải giữ bí mật. Những phiếu thuận và phiếu chống của các thành viên thuộc hai Viện về mọi vấn đề phải được ghi vào cuốn sổ này nếu có yêu cầu của một phần năm các thành viên có mặt.
Trong thời gian Quốc hội họp, không Viện nào được nghỉ họp quá ba ngày hoặc chuyển địa điểm khác với địa điểm mà hai Viện đã quyết định, nếu không được sự đồng ý của Viện kia.
Khoản 6
Các Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ được nhận một khoản trợ cấp cho công việc của mình do luật định và được thanh toán bằng Ngân khố của Hợp chúng quốc. Trong mọi trường hợp, trừ tội phản quốc, trọng tội và tội phá rối an ninh, họ được hưởng đặc quyền không bị bắt giam trong thời gian tham dự khóa họp của Viện, trong khi tới dự cuộc họp và trở về nhà từ cuộc họp. Mọi những lời phát biểu và tranh luận của họ trong cả hai Viện này đều không bị chất vấn tại bất kỳ nơi nào khác.
Trong nhiệm kỳ được bầu của mình, không Thượng nghị sĩ hoặc Hạ nghị sĩ nào được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hợp chúng quốc, lương bổng của họ cũng không được tăng trong thời gian đó. Không một ai khi đang đảm nhiệm bất kỳ chức vụ dân sự trong chính quyền Hợp chúng quốc lại được bầu vào bất cứ Viện nào của Quốc hội.
Khoản 7
Mọi dự luật về lợi tức đều phải do Hạ viện khởi xướng, nhưng Thượng viện có quyền đề nghị hoặc chấp thuận những điều sửa đổi trong các dự luật này như với những dự luật khác.
Mọi đạo luật phải được thông qua bởi Hạ viện và Thượng viện, nhưng trước khi trở thành luật, phải gửi cho Tổng thống của Hợp chúng quốc phê chuẩn. Nếu tán thành, Tổng thống sẽ thể hiện sự đồng ý của mình bằng việc ký vào đạo luật đó. Nhưng nếu thấy việc phê chuẩn đạo luật này là không chính đáng, Tổng thống sẽ trả lại Viện đã khởi xướng đạo luật này cùng với ý kiến không tán thành. Viện này sẽ ghi chép tường tận những ý kiến không tán thành của Tổng thống vào sổ ghi chép của Quốc hội và tiến hành xem xét lại dự luật. Nếu sau khi xem xét, 2/3 thành viên của Viện đó đồng ý thông qua, bất chấp sự phản bác của Tổng thống, thì dự luật sẽ được gửi cho Viện kia, kèm theo ý kiến không tán thành của Tổng thống, để Viện này xem xét. Nếu được 2/3 thành viên của Viện đó phê chuẩn, thì dự luật này sẽ trở thành đạo luật. Nhưng trong mọi trường hợp, cuộc biểu quyết của mỗi Viện được định đoạt bởi các phiếu thuận và chống. Tên của những nghị sĩ tán thành và không tán thành dự luật đó phải được ghi vào cuốn sổ hoạt động của mỗi Viện. Những dự luật mà Tổng thống không gửi trả lại trong vòng 10 ngày (không kể ngày Chủ Nhật) sau ngày đệ trình lên Tổng thống sẽ trở thành đạo luật, như trường hợp Tổng thống đã phê chuẩn, trừ trường hợp vì Quốc hội nghỉ họp nên Tổng thống không thể gửi trả lại cho Quốc hội được. Trong trường hợp đó, dự luật này sẽ không trở thành đạo luật.
Mọi mệnh lệnh, nghị quyết hoặc biểu quyết cần sự chấp thuận của Thượng viện và Hạ viện (trừ trường hợp Quốc hội nghỉ họp), đều phải đệ trình lên Tổng thống Hợp chúng quốc. Trước khi có hiệu lực, chúng phải được Tổng thống phê chuẩn. Nếu Tổng thống không chấp thuận, cần phải có sự chấp thuận lần thứ hai của cả hai Viện với 2/3 thành viên của mỗi Viện, theo đúng các qui chế và giới hạn được qui định cho các trường hợp về dự luật.
Khoản 8
Quốc hội có quyền đặt và thu các khoản thuế để thanh toán các khoản nợ và chi phí cho công cuộc phòng thủ và phúc lợi chung của Hợp chúng quốc. Nhưng mọi khoản thuế quan và thuế môn bài đều phải thống nhất trên toàn lãnh thổ Hợp chúng quốc;
Vay tiền theo tín dụng của Hợp chúng quốc;
Quy định việc thương mại với ngoại quốc, giữa các bang và với các bộ lạc Da Đỏ;
Ban hành những đạo luật thống nhất việc nhập quốc tịch và luật phá sản trên toàn lãnh thổ Hợp chúng quốc;
Ðúc và in tiền, qui định giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài, qui định các tiêu chuẩn đo lường;
Trừng phạt những vụ làm giả trái phiếu và đồng tiền đang lưu hành ở Hợp chúng quốc;
Xây dựng các trạm bưu điện và mạng lưới bưu điện;
Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các nghề hữu ích bằng cách đảm bảo quyền sở hữu của các tác giả và nhà phát minh đối với các tác phẩm và phát minh trong thời gian hạn định;
Thiết lập các tòa án cấp dưới của Tòa án tối cao;
Xác định và trừng phạt các tội cướp biển và trọng tội xảy ra trên biển và những vi phạm luật pháp quốc tế;
Tuyên chiến, ban hành các văn bản tịch thu và trưng thu để trừng phạt kẻ thù và qui định các thể thức chiếm dụng tài sản trên bộ và mặt biển;
Thiết lập và nuôi dưỡng một đội quân, nhưng không một khoản ngân sách nào cho vấn đề này được kéo dài quá hai năm;
Thiết lập và duy trì hải quân;
Ban hành các luật lệ và các qui chế về lực lượng lục quân và hải quân;
Trù liệu việc xây dựng lực lượng dự bị nhằm thực thi luật pháp của Liên bang, trấn áp các cuộc phiến loạn và đẩy lùi xâm lăng;
Trù liệu sự tổ chức, vũ trang và duy trì kỷ luật các lực lượng dự bị của các bang, và chỉ đạo các lực lượng, khi được huy động để phục vụ liên bang Hợp chúng quốc, nhưng vẫn dành cho các bang quyền bổ nhiệm sĩ quan và quyền huấn luyện lực lượng dự bị của mỗi bang, theo kỷ luật do Quốc hội quy định;
Thực thi độc quyền lập pháp trong mọi trường hợp đối với một vùng đất (không rộng quá 10 dặm vuông) mà các tiểu bang thỏa thuận nhượng lại cho Quốc hội. Sau khi được Quốc hội Liên bang chấp thuận, vùng đất này sẽ trở thành trụ sở của chính quyền liên bang; thi hành quyền lực của liên bang tại tất cả những nơi được mua lại với sự thỏa thuận của cơ quan lập pháp tiểu bang đó, để xây dựng các pháo đài, kho vũ khí, xưởng chế tạo vũ khí, quân cảng và các cơ sở cần thiết khác; và
Ban hành mọi đạo luật cần thiết để thực thi những quyền nói trên, cũng như tất cả những quyền lực khác, được Hiến pháp này trao cho chính phủ Hợp chúng quốc, hoặc cho bất cứ cơ quan nào, hay một quan chức nào của Hợp chúng quốc.
Khoản 9
Nếu một trong các tiểu bang hiện tại xét có thể chấp thuận cho người nào đó được di trú hoặc nhập cảnh, Quốc hội không thể cấm đoán sự di trú hay nhập cảnh này trước năm 1808. Nhưng một khoản thuế không quá 10 đô la cho mỗi người nhập cư có thể được đánh vào sự nhập cư đó.
Đặc ân được xét xử theo đạo luật Habeas Corpus[1] sẽ không bị tước đoạt, trừ trường hợp có phiến loạn và xâm lược, hoặc do yêu cầu nhằm đảm bảo nền an ninh chung đòi hỏi.
 Không được thông qua bất cứ đạo luật nào trừng phạt một con người mà không thông qua xét xử. Không được ban hành bất cứ đạo luật hồi tố nào.
Không được ban hành bất cứ loại thuế thân hoặc các loại thuế trực thu khác, nếu không tương ứng với cuộc điều tra dân số kể trên trong điều này.
Không một loại thuế nào được đánh vào các hàng hóa xuất khẩu từ bất cứ bang nào.
Trong những quy chế về thương mại và thu nhập, không hải cảng của bất cứ bang nào được ưu tiên hơn so với hải cảnh của những bang khác. Tàu thuyền đến, hay đi từ một bang nào đó, sẽ không bị bắt buộc phải cập bến, phải chịu sự kiểm tra hay phải nộp thuế ở một bang khác.
Không một khoản tiền nào được lấy từ ngân khố Liên bang nếu không có một đạo luật cho phép. Bản báo cáo tài chính thường kỳ về những khoản tiền thu chi của công quĩ phải được công bố thường xuyên.
Hợp chúng quốc không ban tặng bất cứ danh hiệu quý tộc nào. Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, những người đảm nhận những chức vụ có lợi tức, hoặc tín nhiệm của Hợp chúng quốc, không được phép nhận bất cứ quà tặng, lương bổng, hoặc bất cứ danh hiệu, tước vị nào do vua chúa, hoặc chính phủ ngoại quốc ban tặng.
Khoản 10
Không tiểu bang nào có quyền ký kết một hiệp ước, gia nhập liên minh, hoặc liên hiệp nào; không được phép cấp giấy phép trưng thu hay trưng dụng, không được bắt giữ tàu thuyền nước ngoài; không được đúc tiền, hoặc phát hành trái phiếu, nếu không dựa trên bản vị vàng bạc để thanh toán các khoản nợ; không được thông qua các đạo luật gây tổn hại đến dân quyền, không được ban hành các đạo luật trừng phạt con người về một hành vi không vi phạm pháp luật, hoặc một đạo luật phương hại đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; không được ban tặng các tước hiệu quý tộc.
Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không tiểu bang nào được đặt ra thuế và thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ trường hợp tối cần thiết cho việc thực hiện các điều luật về thanh tra. Mọi thu nhập nhờ hệ thống thuế đánh vào hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu, do một bang nào đó đặt ra, đều thuộc quyền sử dụng của Ngân khố Hợp chúng quốc. Đồng thời, mọi điều luật này đều phải đệ trình lên Quốc hội xét duyệt và kiểm soát.
Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không tiểu bang nào có quyền được đánh thuế tàu, duy trì các đội quân và tàu chiến trong thời bình, ký kết hiệp định hoặc thỏa ước với một bang khác hoặc với lực lượng nước ngoài, hoặc tham gia vào cuộc chiến tranh, trừ trường hợp thực sự bị xâm lược, hoặc lâm vào tình trạng cấp bách không thể trì hoãn.


Hiến Pháp Liên Bang Nga 1993 - Lập Pháp

Hiến Pháp Liên Bang Nga 1993 - Lập Pháp

Hiến Pháp Liên Bang Nga 1993

PHẦN MỘT
CHƯƠNG V
QUỐC HỘI LIÊN BANG
Điều 94
Quốc hội Liên bang – nghị viện của Liên bang Nga – là cơ quan đại diện và lập pháp của Liên bang Nga.
Điều 95
1. Quốc hội Liên bang gồm hai viện – Hội đồng Liên bang và Đuma Quốc gia.
2. Mỗi chủ thể Liên bang Nga có hai đại biểu trong Hội đồng Liên bang: một người của quyền lập pháp và một người của quyền hành pháp.
3. Đuma Quốc gia có 450 đại biểu.
Điều 96
1. Đuma Quốc gia có nhiệm kỳ bốn năm.
2. Trình tự thành lập Hội đồng Liên bang và bầu cử đại biểu Đuma Quốc gia do đạo luật liên bang quy định.
Điều 97
1. Công dân Nga từ 21 tuổi trở lên và đủ điều kiện tham gia bầu cử thì có thể được bầu làm đại biểu Đuma Quốc gia.
2. Một người không được đồng thời là thành viên Hội đồng Liên bang và Đuma Quốc gia. Đại biểu Đuma Quốc gia không được kiêm nhiệm làm đại biểu các cơ quan đại diện của quyền lực nhà nước và các cơ quan tự quản địa phương.
3. Đại biểu Đuma Quốc gia hoạt động thường xuyên và chuyên nghiệp. Đại biểu Đuma Quốc gia không được làm việc trong nền công vụ, làm các công việc được trả lương khác, trừ các hoạt động giảng dạy, khoa học hoặc hoạt động sáng tạo khác.
Điều 98
1. Thành viên Hội đồng Liên bang và đại biểu Đuma Quốc gia hưởng đặc quyền bất khả xâm phạm trong suốt nhiệm kỳ của mình. Họ không bị bắt và khám xét, trừ khi bị bắt quả tang phạm tội, không bị khám người, trừ những trường hợp đã được luật liên bang quy định nhằm bảo vệ an toàn cho người khác.
2. Mỗi viện quyết định về việc tước đặc quyền bất khả xâm phạm đối với thành viên của viện theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga.
Điều 99
1. Quốc hội Liên bang là cơ quan hoạt động thường xuyên.
2. Đuma Quốc gia họp phiên đầu tiên sau 30 ngày tính từ khi được bầu. Tổng thống Liên bang Nga có thể triệu tập phiên họp này của Đuma Quốc gia trước thời hạn nói trên.
3. Đại biểu cao tuổi nhất khai mạc phiên họp đầu tiên của Đuma Quốc gia.
4. Quyền hạn của Đuma Quốc gia khoá trước chấm dứt từ thời điểm Đuma Quốc gia khoá mới bắt đầu làm việc.
Điều 100
1. Hội đồng Liên bang và Đuma Quốc gia họp riêng.
2. Hội đồng Liên bang và Đuma Quốc gia họp công khai. Trong những trường hợp được quy định trong nội quy, mỗi viện có thể họp kín.
3. Hai viện có thể họp chung để nghe thông điệp hàng năm của Tổng thống Liên bang Nga, thông điệp của Toà án Hiến pháp Liên bang Nga, phát biểu của lãnh đạo nước ngoài.
Điều 101
1. Hội đồng Liên bang bầu Chủ tịch và các Phó chủ tịch Hội đồng Liên bang từ các thành viên của mình. Đuma Quốc gia bầu Chủ tịch và các Phó chủ tịch Đuma Quốc gia từ các thành viên của mình.
2. Chủ tịch và các Phó chủ tịch Hội đồng Liên bang, Chủ tịch và các Phó chủ tịch Đuma Quốc gia chủ toạ các phiên họp và điều hành công việc nội bộ của mỗi viện.
3. Hội đồng Liên bang và Đuma Quốc gia thành lập các uỷ ban và tiểu ban, tiến hành các cuộc thảo luận về các vấn đề thuộc quyền hạn của mình.
4. Mỗi viện ban hành quy chế của mình và quyết định các vấn đề thủ tục hoạt động nội bộ.
5. Để giám sát việc thực hiện ngân sách liên bang, Hội đồng Liên bang và Đuma Quốc gia thành lập Uỷ ban Kiểm toán với thành phần và thủ tục hoạt động do đạo luật liên bang quy định.
Điều 102
1. Tham quyền của Hội đồng Liên bang bao gồm:
a) Phê chuẩn việc thay đổi biên giới giữa các chủ thể Liên bang Nga;
b) Phê chuẩn lệnh của Tổng thống Liên bang Nga về ban bố tình trạng có chiến tranh;
c) Phê chuẩn lệnh của Tổng thống Liên bang Nga về ban bố tình trạng khẩn cấp;
d) Quyết định về khả năng sử dụng các lực lượng vũ trang của Liên bang Nga ở nước ngoài;
e) Ấn định bầu cử Tổng thống Liên bang Nga;
f) Buộc Tổng thống Liên bang Nga từ chức;
g) Bổ nhiệm thẩm phán Toà án Hiến pháp Liên bang Nga, Toà án Tối cao Liên bang Nga, Toà án Trọng tài Tối cao Liên bang Nga;
h) Bổ nhiệm và cho thôi việc Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga;
i) Bổ nhiệm và cho thôi việc Phó Tổng kiểm toán và một nửa thành viên Uỷ ban Kiểm toán.
2. Hội đồng Liên bang ra nghị quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình đã được Hiến pháp Liên bang Nga quy định.
3. Nghị quyết của Hội đồng Liên bang được thông qua khi có đa số thành viên của tổng số thành viên tán thành, trừ những trường hợp Hiến pháp Liên bang Nga quy định khác.
Điều 103
1. Thẩm quyền của Đuma Quốc gia bao gồm:
a) Biểu quyết về đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga;
b) Quyết định về việc tín nhiệm Chính phủ Liên bang Nga;
c) Bổ nhiệm và cho thôi việc Thống đốc Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga;
d) Bổ nhiệm và cho thôi việc Tổng kiểm toán và một nửa thành viên Uỷ ban Kiểm toán;
e) Bổ nhiệm và cho thôi việc Cao uỷ viên về quyền con người hoạt động theo quy định của đạo luật hiến pháp liên bang;
f) Tuyên bố đặc xá;
g) Đề xuất buộc tội Tổng thống Liên bang Nga để tiến hành đàn hạch.
2. Đuma Quốc gia ra nghị quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình đã được Hiến pháp Liên bang Nga quy định.
3. Nghị quyết của Đuma Quốc gia được thông qua khi có đa số thành viên của tổng số thành viên tán thành, trừ những trường hợp Hiến pháp Liên bang Nga quy định khác.
Điều 104
1. Quyền sáng kiến lập pháp thuộc về: Tổng thống Liên bang Nga, Hội đồng Liên bang, các thành viên Hội đồng Liên bang, đại biểu Đuma Quốc gia, Chính phủ Liên bang Nga, các cơ quan lập pháp (đại diện) của các chủ thể Liên bang Nga. Quyền sáng kiến lập pháp cũng thuộc về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga, Toà án Tối cao Liên bang Nga, Toà án Trọng tài Tối cao Liên bang Nga về những vấn đề thuộc thẩm quyền của các cơ quan này.
2. Các dự luật được trình ra Đuma Quốc gia.
3. Các dự luật về ban hành hoặc huỷ bỏ các loại thuế, miễn thuế, phát hành công trái quốc gia, về việc thay đổi các nghĩa vụ tài chính của nhà nước, các dự luật khác quy định về các khoản chi từ ngân sách liên bang chỉ được trình khi có kết luận của Chính phủ Liên bang Nga.
Điều 105
1. Các đạo luật liên bang do Đuma Quốc gia thông qua.
2. Các đạo luật liên bang được thông qua khi có đa số của tổng số đại biểu Đuma Quốc gia tán thành, trừ những trường hợp Hiến pháp Liên bang Nga quy định khác.
3. Các đạo luật liên bang đã được Đuma Quốc gia thông qua phải được chuyển cho Hội đồng Liên bang xem xét trong vòng năm ngày.
4. Đạo luật liên bang được Hội đồng Liên bang thông qua khi có hơn một nửa tổng số thành viên của viện tán thành, hoặc khi đạo luật đó không được Hội đồng Liên bang xem xét trong vòng 14 ngày. Trong trường hợp Hội đồng Liên bang bác bỏ đạo luật liên bang, cả hai viện có thể thành lập uỷ ban điều đình đề dàn xếp khác biệt, sau đó Đuma Quốc gia xem xét lại đạo luật liên bang đó.
5. Trong trường hợp Đuma Quốc gia không đồng ý với quyết định của Hội đồng Liên bang, đạo luật liên bang được coi là đã thông qua khi xem xét lại có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Đuma Quốc gia biểu quyết tán thành đạo luật.
Điều 106
1. Hội đồng Liên bang bắt buộc phải xem xét các đạo luật đã được Đuma Quốc gia thông qua về các vấn đề sau:
a) Ngân sách liên bang;
b) Các loại thuế và phí liên bang;
c) Quy định về tài chính, tiền tệ, tín dụng, hải quan, phát hành tiền;
d) Phê chuẩn và huỷ bỏ điều ước quốc tế của Liên bang Nga;
e) Địa vị pháp lý và bảo vệ biên giới quốc gia của Liên bang Nga;
f) Chiến tranh và hoà bình.
Điều 107
1. Trong vòng năm ngày sau khi đã được thông qua, đạo luật liên bang được chuyển cho Tổng thống Liên bang Nga ký và công bố.
2. Trong vòng 14 ngày, Tổng thống Liên bang Nga ký và công bố luật liên bang.
3. Nếu trong vòng 14 ngày kể từ khi nhận mà Tổng thống Liên bang Nga bác bỏ đạo luật liên bang, Đuma Quốc gia và Hội đồng Liên bang sẽ xem xét lại đạo luật đó theo trình tự do Hiến pháp Liên bang Nga quy định. Nếu sau khi xem xét lại, nếu bản cũ của đạo luật vẫn được thông qua bởi ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Hội đồng Liên bang và tổng số đại biểu Đuma Quốc gia, đạo luật đó phải được Tổng thống Liên bang Nga ký trong vòng 7 ngày và công bố.
Điều 108
1. Các đạo luật hiến pháp liên bang được ban hành để điều chỉnh các vấn đề do Hiến pháp Liên bang Nga quy định.
2. Đạo luật hiến pháp liên bang được thông qua bởi ít nhất ba phần tư tổng số thành viên Hội đồng Liên bang và ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Đuma Quốc gia. Đạo luật hiến pháp liên bang đã được thông qua phải được Tổng thống Liên bang Nga ký và công bố trong vòng 14 ngày.
Điều 109
1. Đuma Quốc gia có thể bị Tổng thống Liên bang Nga giải tán theo trình tự quy định tại Điều 111 và 117 của Hiến pháp Liên bang Nga.
2. Trong trường hợp giải tán Đuma Quốc gia, Tổng thống Liên bang Nga ấn định ngày bầu cử để Đuma Quốc gia mới có thể nhóm họp không muộn hơn 4 tháng kể từ khi giải tán.
3. Trong vòng một năm kể từ khi được bầu, không được giải tán Đuma Quốc gia theo quy định của Điều 117 Hiến pháp Liên bang Nga.
4. Đuma Quốc gia không bị giải tán từ thời điểm viện này đưa ra lời buộc tội Tổng thống Liên bang cho đến khi có quyết định của Hội đồng Liên bang.
5. Không được giải tán Đuma Quốc gia trong thời gian ban bố tình trạng có chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga, cũng như trong vòng sáu tháng trước khi kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống Liên bang Nga.